Kinh tế Việt Nam: Những thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bài viết khái quát những thành tựu nổi bật của kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 trong bối cảnh có nhiều biến động toàn cầu, đồng thời phân tích mục tiêu, định hướng và các đột phá chiến lược nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh,...

1. Những thành tựu toàn diện, tạo thế và lực mới cho phát triển đất nước trong giai đoạn 2021 - 2025
Trong suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng dương và thuộc top dẫn đầu thế giới, bất chấp đại dịch Covid-19 và các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống mới gây tổn thất cho mọi quốc gia và nền kinh tế toàn cầu.
Theo số liệu của Cục Thống kê, tính chung giai đoạn 2021 - 2025, Việt Nam đã đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó vượt toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội và an sinh xã hội. GDP bình quân tăng 6,3% (cao hơn mức tăng 6,2% của nhiệm kỳ trước). Quy mô nền kinh tế tăng gần 1,5 lần, từ 346 tỉ USD năm 2020 lên 514 tỉ USD năm 2025 và tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới và thứ 4 trong ASEAN; GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa nước ta vào nhóm thu nhập trung bình cao. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; cơ cấu kinh tế và chất lượng tăng trưởng chuyển biến tích cực; lạm phát được kiểm soát dưới 4%; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Công nghiệp công nghệ số của Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, là nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số nhanh hàng đầu Đông Nam Á. Năm 2025, chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế, giữ nguyên thứ hạng như năm 2024. Quy mô thương mại tăng mạnh, gấp 1,7 lần, từ 545,4 tỉ USD năm 2020 lên mức kỷ lục trên 930 tỉ USD năm 2025 (kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỉ USD, tăng 17,0% và nhập khẩu đạt 455,01 tỉ USD, tăng 19,4% so với năm 2024), thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới; xuất siêu lớn, đạt trên 88,3 tỉ USD, tăng hơn 2 lần so với nhiệm kỳ trước. Du lịch tiếp tục được phục hồi, năm 2025 cả nước đón khoảng 22 triệu lượt khách quốc tế, cao nhất từ trước đến nay. Đặc biệt, năm 2025 cũng là năm đầu tiên cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam chạm mốc 1 triệu doanh nghiệp sau 5 năm lỡ hẹn, tăng trên 20% so với năm 2020.

Ba đột phá chiến lược được Đại hội XIII của Đảng xác định và tiếp tục đẩy mạnh bao gồm: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại được triển khai quyết liệt, hiệu quả, mở ra không gian và kiến tạo phát triển cho đất nước. Giai đoạn 2021 - 2025, Quốc hội thông qua trên 180 luật, pháp lệnh, nghị quyết và ban hành 820 nghị định, nhiều nhất trong một nhiệm kỳ từ trước đến nay. Quốc hội cũng đã cắt giảm, đơn giản hóa gần 4.300 quy định kinh doanh, thủ tục hành chính và giấy tờ công dân. Chính phủ ban hành 820 nghị định và gần 1.400 nghị quyết. Riêng năm 2025, Chính phủ trình Quốc hội trên 100 dự án luật, nghị quyết. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng triển khai quyết liệt, hiệu quả việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Chính phủ; tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Biên chế khối hành chính nhà nước giảm 145.000 người; chi thường xuyên giảm 39 nghìn tỉ đồng/năm.


Thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy chỉ đạo tại Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, cơ cấu Chính phủ sau khi sắp xếp đã giảm 5 bộ, cơ quan ngang bộ; 3 cơ quan thuộc Chính phủ. Giảm 13/13 tổng cục và tương đương; giảm 519 cục và tương đương (giảm 77,6%); giảm 219 vụ và tương đương (giảm 54,1%); giảm 3.303 chi cục và tương đương (giảm 91,7%); giảm 203 đơn vị sự nghiệp công lập (giảm 38%). Biên chế tại các bộ, ngành giảm khoảng 22.000 người (đạt khoảng 20%). Chính quyền hai cấp giảm 29 cấp tỉnh và giảm 6.714 cấp xã (gần 66,9%); biên chế giảm 142.746 người; chuyển trạng thái từ quản lý hành chính sang phục vụ Nhân dân và kiến tạo phát triển. 100% xã, phường có hạ tầng băng rộng cáp quang; tốc độ Internet di động thuộc top 20 thế giới.

Bên cạnh đó, năm 2025 là năm đột phá về hạ tầng giao thông. Theo Bộ Xây dựng, đến hết năm 2025, Việt Nam hoàn thành 3.245 km đường bộ cao tốc (vượt mục tiêu là 3.000 km) và 1.711 km đường ven biển (vượt mục tiêu là 1.700 km); hạ tầng giao thông, văn hóa, xã hội được đầu tư mạnh mẽ, trong đó, Trung tâm Triển lãm quốc gia (VEC) thuộc top 10 thế giới.

Trong giai đoạn 2021 - 2025, các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước tiến bộ cả về nhận thức, hành động và kết quả; đời sống của Nhân dân được nâng lên: 10 di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO công nhận, ghi danh; chỉ số phát triển con người (HDI) tăng 18 bậc, xếp hạng 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,2% năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống 1,3% năm 2025. Thu nhập bình quân người lao động hằng tháng tăng từ 5,5 triệu đồng năm 2020 lên 8,3 triệu đồng năm 2025. Hoàn thành mục tiêu cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm 5 năm 4 tháng với trên 334.000 căn nhà. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam xếp hạng 51/165, tăng 37 bậc so với năm 2016. Theo Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020. Tuổi thọ người dân trung bình đạt 74,7 tuổi. Chỉ số hạnh phúc đứng 46/143 quốc gia theo xếp hạng của Liên hợp quốc, tăng 8 bậc so với năm 2024 và tăng 37 bậc so với năm 2020.

Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao; Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028; Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với gần 40 nước trên toàn thế giới.

2. Một số mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030
Kỷ nguyên mới của Việt Nam được khởi đầu từ năm 2026, khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV với tầm nhìn mới, đặt ra nhiều mục tiêu và kỳ vọng mới, định hình tầm vóc một Việt Nam vươn mình mạnh mẽ với những cơ hội mới, song cũng còn nhiều phức tạp, khó lường, gắn với sự gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực đa trung tâm… Trong bối cảnh đó, Báo cáo Chính trị và các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV đã xác định các phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp và chương trình hành động cụ thể để Việt Nam đạt được các mục tiêu cao hơn.

Theo đó, Việt Nam phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Tỉ lệ huy động nguồn ngân sách trong giai đoạn 2026 - 2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP. Tỉ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỉ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt khoảng 65 - 70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%; tỉ lệ các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98 - 100%; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia…

Đặc biệt, những đột phá thể chế của Đảng và nhà nước ta (trong đó thể chế chính trị giữ vai trò then chốt, định hướng; thể chế kinh tế là trọng tâm; thể chế trên các lĩnh vực khác là quan trọng), nhất là về kinh tế tư nhân và khoa học - công nghệ đang tạo làn gió mới để phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế, với khu vực kinh tế tư nhân có vai trò là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm các cân đối lớn, định hướng chiến lược, dẫn dắt nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng.

Không gian phát triển cũng sẽ được mở rộng gắn với quá trình hoàn thiện mô hình tổ chức hệ thống chính trị ba cấp, chính quyền địa phương hai cấp theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, mở rộng; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội, để thị trường thực sự có vai trò quyết định trong huy động và phân bổ nguồn lực. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, nhấn mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ; cũng như nhấn mạnh quan điểm “phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”, với trọng tâm là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất mới, phương thức, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mới.

3. Phát huy sức mạnh toàn hệ thống chính trị nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Để hiện thực hóa các mục tiêu trong tầm nhìn mới trong kỷ nguyên mới, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và hệ thống chính trị các cấp trên cả nước cần chung sức, đồng lòng trên nền tảng kiên định về tư tưởng, mục tiêu và đường lối phát triển, đồng thời triển khai đồng bộ các định hướng chiến lược mang tính căn cơ, lâu dài và có tính dẫn dắt.
Thứ nhất, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Trên cơ sở đó, cần chủ động nhận diện sớm thời cơ, thuận lợi và thách thức, kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm: Phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh; đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chủ động hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên; bảo đảm tự chủ chiến lược và thúc đẩy toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và mô hình phát triển.

Thứ hai, Việt Nam cần đồng bộ hóa và đa dạng hóa các giải pháp từ chính trị, đối ngoại đến cơ chế, chính sách kinh tế - tài chính thích ứng nhằm củng cố lòng tin chiến lược của các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược toàn diện. Đây là điều kiện then chốt để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao, tiếp cận và mua lại công nghệ cao, qua đó tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng công nghệ cao “mang tính bạn bè” trong khu vực và toàn cầu.

Thứ ba, cần triển khai nhanh, hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cũng như Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Trọng tâm là hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt và lan tỏa, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước giữ vai trò then chốt.

Thứ tư, cần có chính sách đồng bộ và riêng biệt hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã; khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả. Song song với đó, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới công nghệ, tham gia các lĩnh vực chiến lược, hạ tầng quan trọng, công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, an ninh năng lượng và các dự án trọng điểm quốc gia; kiểm soát chặt chẽ độc quyền và thao túng chính sách; bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực thi hợp đồng; giảm thiểu rủi ro pháp lý và hạn chế thay đổi chính sách đột ngột gây tổn thất cho doanh nghiệp.

Thứ năm, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường hay một đối tác; thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế với lộ trình linh hoạt, phù hợp từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường đổi mới sáng tạo và từng bước làm chủ khoa học - công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ sáu, cần sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hòa giữa Nhà nước - thị trường - xã hội trong mô hình Nhà nước kiểu mới; bảo đảm tính đồng bộ và cân bằng trong đa dạng hóa và phối hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế; nâng cao năng lực dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng, giữ vững lòng tin thị trường, uy tín quốc gia và niềm tin chiến lược quốc tế vào các đột phá thể chế của Việt Nam.

4. Kết luận
Giai đoạn 2021 - 2025 đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của kinh tế Việt Nam, với những thành tựu toàn diện, tạo dựng thế và lực mới cho đất nước trong bối cảnh nhiều biến động phức tạp của kinh tế và chính trị toàn cầu. Trên nền tảng đó, Đại hội Đảng lần thứ XIV đã mở ra tầm nhìn phát triển mới, định hình mô hình tăng trưởng và không gian phát triển mới cho giai đoạn 2026 - 2030 và xa hơn, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Để hiện thực hóa khát vọng đó, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt và sáng tạo của toàn bộ hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội, với trọng tâm là kiên định nền tảng tư tưởng, đột phá thể chế, phát huy vai trò của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, củng cố niềm tin chính trị - kinh tế, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Việc kết hợp hài hòa giữa Nhà nước - thị trường - xã hội, giữa nội lực và ngoại lực, giữa độc lập tự chủ và hội nhập sâu rộng sẽ là chìa khóa để Việt Nam chuyển hóa thách thức thành cơ hội, tạo động lực phát triển mới, bền vững và bao trùm.

Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với quyết tâm chính trị cao, tư duy phát triển đổi mới và sự đồng thuận xã hội ngày càng được củng cố, Việt Nam có đủ cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, nâng cao vị thế quốc gia và vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

 Tạp chí ngân hàng